Trang chủ » Bất cập trong quản lý vận tải đường thuỷ nội địa

Bất cập trong quản lý vận tải đường thuỷ nội địa

(Ngày đăng: 22-06-2017 11:53:17)
icon facebook   icon google plus  
Vận tải đường thủy nội địa và khâu quản lý đang có khá nhiều vấn đề bất cập chưa thể giải quyết được, ít nhiều làm ảnh hưởng tới sự phát triển về sau.

Bất cập trong quản lý vận tải đường thuỷ nội địa

Xuất phát từ đòi hỏi của thực tế mà hoạt động vận tải đường thủy nội địa được triển khai thường xuyên và mở rộng hơn ở cả phạm vi. Cùng với sự có mặt của nhiều công ty vận tải đường biển nội địa trên thị trường, nó gây ra những khó khăn nhất định trong công tác quản lý vì chưa được xây dựng chặt chẽ. Nhiều bất cập trong công tác quản lý là những gì được gì thấy rõ hiện giờ.

Hiện nay trên địa bàn Quảng Ninh có 47 tuyến, luồng đường thuỷ nội địa với tổng chiều dài hơn 781km, trong đó có 32 tuyến, luồng do Trung ương quản lý với tổng chiều dài gần 220km. Toàn tỉnh hiện có 178 cảng, bến (gồm 11 cảng biển, 54 cảng và 113 bến thuỷ nội địa); tổng số phương tiện thuỷ đang hoạt động là 14.198 phương tiện, trong đó có 2.408 phương tiện vận tải hàng hoá, 528 phương tiện vận chuyển khách du lịch, 72 phương tiện vận chuyển khách cố định, 25 phương tiện vận chuyển công nhân đi làm trên biển, 10.967 phương tiện đánh bắt thuỷ sản, 478 chiếc đò dân sinh và 440 chiếc đò chở hàng.

Với tuyến, luồng nhiều, phương tiện đông, trong những năm qua công tác đảm bảo an toàn công ty vận tải đường biển nội địa, đường thuỷ, nhất là trong vận tải khách thuỷ luôn được các cấp, ngành, địa phương quan tâm. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đảm bảo an toàn đường thuỷ nội địa đó là công tác đăng ký, đăng kiểm, an toàn phương tiện. Song hành với đó, công tác quản lý kỹ thuật, kiểm tra an toàn phương tiện cũng được tuân thủ đúng quy định hiện hành về việc kiểm tra, lập và cấp giấy tờ thủ tục đăng kiểm phương tiện, thực hiện đầy đủ chế độ thống kê, báo cáo hàng tháng kết quả công tác về Cục Đăng kiểm Việt Nam. Đồng thời cũng đẩy mạnh công tác quản lý cảng bến, Sở GT-VT tổ chức quản lý thống nhất, tập trung một đầu mối từ khâu chấp thuận địa điểm xây dựng cảng/bến đến công tác cấp phép hoạt động và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước tại cảng/bến theo các quy định tại Thông tư số 25/2010/TT-BGTVT ngày 31-8-2010 của Bộ GT-VT về quản lý hoạt động của cảng, bến thuỷ nội địa; Quyết định số 31/2004/QĐ-BGTVT ngày 21-12-2004 của Bộ GT-VT về tiêu chuẩn cấp kỹ thuật cảng thuỷ nội địa, tiêu chuẩn bến thuỷ nội địa.

Ngoài việc thực hiện kiểm tra, giám sát hàng ngày các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đối với phương tiện, quy định về người điều khiển phương tiện, quy định về cấp phép phương tiện rời cảng, bến theo các luồng, tuyến đã được công bố còn có các lực lượng thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo chuyên ngành gồm: Cảng vụ Đường thuỷ nội địa, Thanh tra Sở GT-VT và Cảnh sát đường thuỷ  theo dõi, kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày và thường trực công tác đảm bảo giao thông, trực cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền cho chủ bến, bãi, cảng, chủ phương tiện và người tham gia giao thông về ý thức chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông đường thuỷ, phòng ngừa tai nạn và cách xử lý khi có các tình huống xảy ra.

Tuy nhiên, hiện nay bất cập lớn nhất trong đảm bảo an toàn vận tải thuỷ, đó là do đặc thù về điều kiện tự nhiên nên hầu hết các tuyến đường thuỷ nội địa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nằm trên các khu vực ven biển, các báo hiệu đường thuỷ nội địa chịu nhiều yếu tố bất lợi của thời tiết như sóng, gió, sự nhiễm mặn làm ảnh hưởng nhiều đến tuổi thọ cũng như chu kỳ thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị báo hiệu, trong khi đó kinh phí bảo trì hệ thống vẫn đang thực hiện theo định mức kinh tế kỹ thuật quản lý bảo trì đường thuỷ nội địa ban hành kèm theo Quyết định số  39/2004/QĐ-BGTVT ngày 31-12-2004 và Thông tư 48/2011/TT-BGTVT ngày 20-7-2011 của Bộ GT-VT. Định mức trên khi áp dụng tại các vùng sông nước ngọt là phù hợp nhưng nếu áp dụng trên các vùng biển nước mặn sẽ gây khó khăn cho công tác bảo trì luồng đường thuỷ tại địa phương. Vì thế các cấp, ngành cần sớm nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương.