Trang chủ » Xuất nhập khẩu “hậu” WTO: “Phớt lờ” cảnh báo

Xuất nhập khẩu “hậu” WTO: “Phớt lờ” cảnh báo

(Ngày đăng: 06-04-2013 08:53:55)
icon facebook   icon google plus  
INFONEWS - Bên cạnh những con số “bóng bẩy” về kim ngạch XK, nhìn chung tâm lí của nhiều chuyên gia lại có phần thất vọng về tình hình XNK “hậu” gia nhập WTO.
Thực tế tham gia WTO chưa tác động nhiều đến XK của Việt Nam. Trong ảnh: Ô tô vận chuyển hàng hóa XNK qua cửa khẩu quốc tế Cha Lo (Quảng Bình). Ảnh: L.B

XK tăng không nhờ WTO

Tăng trưởng XK của Việt Nam sau khi gia nhập WTO liên tục tăng cao. Cụ thể năm 2006, XK mới chỉ đạt 39,6 tỉ USD thì năm 2010, kim ngạch XK đạt 71,6 tỉ USD, năm 2011 kim ngạch XK đạt 96,9 tỉ USD (trung bình tăng 19,5%/năm). Năm 2012 XK đạt 114,6 tỉ USD, tăng 18,3% so với năm 2011. Tại thời điểm “đêm trước” gia nhập WTO của nước ta, một tờ báo Trung Quốc đã nhận định rằng, XK hàng hoá của Việt Nam vào năm 2010 sẽ đạt 100 tỉ USD, tức là sẽ tăng bình quân 25,25%/năm trong kế hoạch 5 năm 2006-2010. So với những con số XK đạt được đến nay, thì dự báo của tờ báo Trung Quốc gần chính xác. XK đã vượt mốc 100 tỉ USD vào năm 2012

Thế nhưng khi đánh giá tình hình thương mại quốc tế và trong nước sau 5 năm gia nhập WTO, TS. Nguyễn Anh Dương, Phó Ban chính sách kinh tế vĩ mô của Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) lại đưa ra một thông tin đáng chú ý. Đó là gia nhập WTO không tác động đáng kể đến tăng trưởng XK.

“Tăng trưởng XK chủ yếu do tăng trưởng thương mại toàn cầu, tự do hóa và cải thiện khả năng cạnh tranh, trong khi việc gia nhập WTO không có tác động đáng kể.” - TS Nguyễn Anh Dương nhận định.

Cùng quan điểm này, TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng CIEM cho rằng: Tăng trưởng XK trong 5 năm gia nhập WTO cơ bản do hai nhân tố tác động là tăng trưởng kinh tế toàn cầu và các hiệp định thương mại tự do-FTA chứ không phải do gia nhập WTO. Lợi thế XK vẫn tập trung ở các nhóm hàng sử dụng tài nguyên khoáng sản, dựa vào nông nghiệp và các ngành chế biến thâm dụng lao động.

Chứng minh cho thực tế tham gia WTO chưa tác động nhiều đến XK của Việt Nam, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn chứng: Trước khi gia nhập WTO, tăng trưởng XK của Việt Nam vẫn trên 20%/năm. Sau WTO, tăng trưởng XK cũng không tăng lên nhiều. Nó là hệ quả của việc định hướng đầu tư giai đoạn sau này ưu tiên cho các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Điều này không mang lại giá trị XK, trái lại làm cho NK tăng lên, dẫn đến việc giá trị XK không tăng nhiều hơn. Ngoài ra trước khi gia nhập WTO, thế mạnh XK của Việt Nam gia công mặt hàng da giày, may mặc thì sau khi vào WTO, thế mạnh của Việt Nam vẫn là gia công mặt hàng may mặc, da giày và mới đây có thêm một số ngành hàng công nghệ cao. Nhưng trên thực tế, tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu, ngành công nghiệp của Việt Nam cũng chỉ chuyển từ “đạp máy khâu sang sử dụng máy hàn” mà thôi.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng lo ngại: Thị phần XK đang rơi vào tay DN nước ngoài. Năm 2012, DN FDI chiếm 60% tổng kim ngạch XK cả nước và tăng 35% so với cùng kì trong khi DN nội cứ lùi dần. Đây là điều đáng xem xét. Nếu không một ngày đẹp trời hay xấu trời nào đó, DN FDI chuyển sang nước khác thì XK Việt Nam sẽ đi xuống rất nhanh.

NK vẫn tăng mạnh

Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO. 4 tháng sau, căn cứ vào tình hình XNK 4 tháng đầu năm 2007, chuyên gia Nguyễn Đình Bích của Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương) đã đưa ra những nhận định hết sức đáng lưu tâm và gióng lên hồi chuông cảnh báo cho vấn đề XNK hậu WTO.

Ông Nguyễn Đình Bích đã phân tích: 4 tháng đầu năm 2007 kim ngạch nhập siêu đã đạt 2,261 tỉ USD, tăng gần 15,6% so với cùng kì. Đây chính là một xu thế mới trong bức tranh XNK của nước ta, bởi kim ngạch nhập siêu cùng kì năm 2006 chỉ là 730 triệu USD, tức là chỉ bằng 32,3% mức nhập siêu hiện nay, còn tỉ lệ nhập siêu cùng kì năm 2006 chỉ là 6,1%.

Và ông Nguyễn Đình Bích đã dự báo rằng: Tuy hãy còn quá sớm để khẳng định về một thời kì tăng bùng nổ NK và nhập siêu giống như những năm đầu của thập kỷ 90, nhưng việc làm thế nào để đẩy XK mạnh hơn nữa, đồng thời kiềm chế NK để hạn chế nhập siêu trong thời kì “hậu” gia nhập WTO đã và chắc chắn sẽ càng trở thành một vấn đề rất bức xúc của một nền kinh tế lệ thuộc quá nặng nề vào NK nguyên liệu như nước ta. Bởi lẽ, nếu không có những giải pháp ngăn chặn hữu hiệu ngay từ bây giờ, thì việc lặp lại “kịch bản” không mong đợi đó là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Đáng buồn là thực tế đã diễn ra như đúng kịch bản mà ông Nguyễn Đình Bích e ngại. NK tăng nhanh ngay sau khi gia nhập WTO. Báo cáo của CIEM cho thấy: Cả giai đoạn 2007-2011, NK tăng 2,6 lần, từ 44,9 tỉ USD lên 106,7 tỉ USD; tốc độ tăng trung bình 18,9%/năm. Dù NK đã tăng chậm lại trong thời gian gần đây, nhưng chủ yếu do khó khăn của khu vực kinh tế trong nước khiến nhu cầu NK nguyên liệu giảm.

Theo TS Võ Trí Thành, kim ngạch XK vẫn chủ yếu dựa vào NK nguyên liệu bán thành phẩm của các nước khác, trong đó chủ yếu là từ Trung Quốc. Hoạt động của hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn DN sản xuất hàng hóa bán ở thị trường nội địa hoặc XK đang phải dựa chủ yếu vào hàng hóa NK từ Trung Quốc, giá trị gia tăng rất thấp. Ông Thành dẫn lại câu nói ví von của TS. Phạm Chi Lan rằng, hoạt động sản xuất trong nước chỉ là “bôi sơn, đánh bóng hàng Trung Quốc sau đó dán nhãn made in Vietnam”.

Sau 6 năm gia nhập WTO, trong báo cáo đánh giá “hậu gia nhập WTO” của CIEM, các chuyên gia của Viện này lại phải tiếp tục kêu gọi Nhà nước tiến hành những biện pháp đã được ông Nguyễn Đình Bích cũng như nhiều chuyên gia đề cập đến từ nhiều năm trước. Đó là phải xây dựng, ban hành tiêu chuẩn hàng hóa XK nhằm tăng giá trị sản phẩm XK, xây dựng lộ trình hạn chế XK sản phẩm thô. Quy định tiêu chuẩn DN được XK một số mặt hàng, gắn với việc thúc đẩy hình thành mối liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu với DN XK, phát triển cơ sở bảo quản chế biến...